Phân chia vũ khí hạt nhân thời kỳ Liên Xô tan rã

0 145

Sau khi Liên Xô tan rã, các quốc gia thuộc khối này đã tiến hành phân chia vũ khí. Điều quan tâm lớn nhất chính là việc phân chia vũ khí hạt nhân thời kỳ Liên Xô tan rã

Theo các báo cáo từ Mỹ cho biết, tính đến cuối năm 1990, Liên Xô và các nước thành viên sở hữu lượng vũ khí hạt nhân cực lớn với trên 10.200 đầu đạn các loại bao gồm các đầu tạn tên lửa được phóng từ các bệ phóng và từ máy bay và tàu chiến. Sau sự tan rã của Liên Xô, số lượng các cường quốc hạt nhân trong Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS) chính thức có 4 – ngoài Nga, còn có Ukraine, Belarus và Kazakhstan.

 Trên lãnh thổ các nước cộng hòa mới độc lập  này vũ khí chiến lược vẫn được bố trí. Trong tay Kiev có 1.240 đầu đạn dẫn đường riêng lẻ – đứng thứ 3 thế giới, bao gồm 176 tên lửa đạn đạo liên lục địa và máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang vũ khí hạt nhân. Alma-Ata có kho vũ khí nhỏ hơn nhưng cũng rất ấn tượng với 1.040 đầu đạn hạt nhân – nhiều hơn cả số lượng vũ khí hạt nhân của Pháp, Trung Quốc và Anh cộng lại.

Quan điểm của Nga

Ban đầu, Liên bang Nga không có ý định một mình kiểm soát tất cả vũ khí chiến lược của Liên Xô. Vì vậy, vào ngày 21/12/1991, tại Alma-Ata, 4 quốc gia nói trên đã ký một thỏa thuận về các biện pháp chung kiểm soát vũ khí hạt nhân. Ngày 30/12/1991, tại Minsk, các quốc gia thành viên CIS đã ký kết thỏa thuận về sự cần thiết thành lập Bộ Tư lệnh Lực lượng Chiến lược Thống nhất về vũ khí hạt nhân Liên Xô.

Tuy nhiên, trước đó, ngày 25/12/1991, Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã nhận được cái gọi là “vali hạt nhân” từ Mikhail Gorbachev. Nhà lãnh đạo Nga trở thành chủ sở hữu duy nhất của chìa khóa biểu tượng kho vũ khí chiến lược của Liên Xô.

Theo điều khoản thứ tư của các thỏa thuận được ký kết tại Minsk, từ nay, quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân phải được đưa ra bởi Tổng thống Nga, nhưng bắt buộc phải có thỏa thuận với người đứng đầu Ukraine, Belarus và Kazakhstan, cũng như tham khảo ý kiến với các thành viên CIS khác.

Trong khi đó, trong số các thành viên của CIS và ở các nước phương Tây, ngày càng có niềm tin rằng, hậu Xô viết, không có nước cộng hòa nào có thể đảm bảo việc bảo quản và mức an toàn cần thiết cho các đầu đạn hạt nhân, ngoại trừ Nga. Vấn đề thiếu kiểm soát một cách thống nhất vũ khí chiến lược của Liên Xô cũng đã gây ra mối quan ngại lớn ở Mỹ và Châu Âu.

Moscow thừa kế

Kết quả là, Bộ chỉ huy thống nhất các lực lượng chiến lược đã không bao giờ được thành lập. Nửa đầu năm 1992 là thời gian mâu thuẫn gay gắt giữa Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Pavel Grachev và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cuối cùng của Liên Xô Yevgeny Shaposhnikov – người đồng thời giữ chức vụ Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang CIS.

Chẳng mấy chốc, cơ quan này đã bị cho ra lề, Bộ Quốc phòng Nga nhận về mình quyền kiểm soát vũ khí chiến lược của Liên Xô. Và đến cuối năm 1992, việc kiểm soát lực lượng hạt nhân chiến lược trong thực tế đã được Moscow độc quyền, không có sự tham gia của Kiev, Minsk và Alma-Ata

Tháng 6/1992, các quốc gia thành viên CIS ủng hộ ý định của Nga ký Hiệp ước về việc không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Ngoài ra, họ bày tỏ mong muốn tham gia thỏa thuận với tư cách là các quốc gia phi hạt nhân.

 Như vậy, Kiev, Minsk và Alma-Ata tái khẳng định họ sẵn sàng tự nguyện từ bỏ kho vũ khí chiến lược của mình. Moscow phải mất thêm vài năm sau đó để chuyển toàn bộ vũ khí hạt nhân về Nga. Đến năm 1996, không có kho vũ khí chiến lược nào ở Belarus và Kazakhstan, riêng với Ukraine, mọi thứ diễn ra phức tạp hơn.

Ukraine phi hạt nhân

Tại nước cộng hòa 50 triệu dân mới độc lập Ukraine, có một mong muốn mạnh mẽ biến nước này thành một cường quốc sở hữu một lực lượng Hải quân và Lực lượng hạt nhân chiến lược mạnh.

về việc phân chia vũ khí hạt nhân thời kỳ Liên Xô tan rãCựu Bộ trưởng Tư pháp Nezalezhnoy Sergei Golovaty khi đó tuyên bố thẳng thừng rằng, Kiev cần vũ khí hạt nhân để “ngăn chặn nước Nga”. Về phần mình, Tổng thống Ukraine lúc đó Leonid Kravchuk bày tỏ nghi ngờ năng lực nước Nga trong việc phá hủy vũ khí hạt nhân được chuyển giao.

Tuy nhiên, với sự hòa giải của Washington, Kiev đã được thuyết phục về sự cần thiết phải chuyển kho vũ khí chiến lược sang Moscow. Tháng 1/1994, trong một tuyên bố ba bên của các nhà lãnh đạo Mỹ, Nga và Ukraine, Kiev đã xác nhận tình trạng phi hạt nhân của mình. Bản ghi nhớ Budapest ngày 5/12/1994 đã ghi rõ việc Ukraine và Belarus đã tham gia Hiệp ước về không phổ biến vũ khí hạt nhân và sẽ buộc các quốc gia khác đưa tất tất cả vũ khí hạt nhân khỏi lãnh thổ của mình. Để đảm bảo an toàn của quốc gia mình, Mỹ, Anh và Nga hứa sẽ không gây áp lực kinh tế đối với Ukraine và sẽ lập tức trình lên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khi có quốc gia nào xung đột với Ukraina. Điều này lại là có lợi cho Nga vì Nga có thể thu về các vũ khí hạt nhân đang trên đất Ukraina mà không tốn nhiều công sức. 

Cần nhắc lại rằng, trước thời điểm phân chia vũ khí hạt nhân Liên Xô năm 1991, Ukraina chiếm đến 1/3 lượng vũ khí hạt nhân của Nga và là đứng thứ 3 trên thế giới về sức mạnh vũ khí hạt nhân. Lực lượng vũ khí bao gồm : 130 dàn tên lửa đạn đạo xuyên lục địa UR-100N ICBM với 6 đầu đạn hạt nhân trên mỗi quả tên lửa, 46 dàn tên lửa hạt nhân xuyên lục địa RT-23 Molodet ICBM với 10 đầu đạn trên mỗi tên lửa, 33 máy bay oanh tạc cơ hạng nặng mang đầu đạn hạt nhân và có tổng cộng 1700 đầu đạn trên toàn lãnh thổ Ukraina

Leave A Reply

Your email address will not be published.