Hệ thống radar phòng không của Việt Nam

0 90

Việt Nam có mối quan hệ rất tốt với Liên Xô, vì thế các hệ thống radar phòng không của Việt Nam chủ yếu là các hệ thống có nguồn gốc từ các nước Xô Viết trước đây như Nga, Ukraina và Belarus

Tháng 1/2017, Việt Nam bắt đầu tiếp nhận các radar hai tọa độ dải tần decimet (dm) hiện đại hóa VRS-2DM phát triển từ mẫu radar P-19 Xô Viết.

Những radar nói trên chuyên thực hiện nhiệm vụ phát hiện các mục tiêu trên không ở độ cao thấp và đã được chuyển giao cho các tiểu đoàn tên lửa phòng không S-125.

Radar VRS-2DM là sản phẩm hợp tác giữa Công ty Belorus “Tetraedr” và Tập đoàn viễn thông Viettel Mobile của Việt Nam.

Mẫu radar gốc P-19 đảm bảo cung cấp các số liệu về phương vị và khoảng cách đến mục tiêu ở cự ly tối đa 150km, tuy nhiên, các tính năng của radar được hiện đại hóa từ P-19 này (tức VRS-2DM) không được công bố.

Vào thời điểm hiện tại, tại những khu vực quanh các căn cứ không quân (sân bay), đã có một số radar P-37 làm việc cặp đôi với máy đo cao vô tuyến PRV-13 được triển khai.

Chúng được sử dụng chủ yếu để điều hành không lưu và cung cấp dữ liệu khác.

Đồng thời với việc tiếp nhận hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1, phía Việt Nam cũng được chuyển giao 2 radar 36D6 (36Д6) có chức năng chủ yếu là chỉ mục tiêu cho các hệ thống phòng không tầm xa.

Radar này đã tỏ ra rất hiệu quả và được Bộ Quốc phòng Việt Nam đánh giá cao. Tháng 3/2014, tại bến cảng thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận thêm 2 radar 36D6-M (ST68UM) (36Д6-М- СТ68УМ)) sản xuất tại Ucraine.

Radar ba tọa độ dải tần cm 36D6-M có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không độ cao lớn ở cự ly đến 360km.

Việc di chuyển radar được thực hiện bằng xe đầu kéo KrAZ-6322 hoặc KrAZ-6446, – radar 36D6-M có thể được triển khai và thu hồi chỉ trong vòng 30 phút. Radar 36D6-M này do xí nghiệp “Iscra” của Ucraine sản xuất. Cho đến thời điểm hiện tại, radar 36D6-M vẫn đáp ứng được các yêu cầu hiện đại.

Nó có thể được sử dụng độc lập để làm trạm điều hành bay tự động hoặc cùng làm việc với các hệ thống phòng không tự động hóa hiện đại để phát hiện những mục tiêu trên không bay ở độ cao thấp được “phủ nhiễu” chủ động và thụ động.

Ngoài các radar 36D6-M, Bộ đội Việt Nam còn khai thác 4 tổ hợp trinh sát vô tuyến kỹ thuật “Kolchuga” cũng do Ucraine sản xuất. Tổ hợp “Kolchuga” có 3 radar.

Tổ hợp này có thể làm việc ở chế độ thụ động và xác định với độ chính xác rất cao tọa độ của các mục tiêu trên mặt đất và trên biển, tuyến di chuyển của các mục tiêu đó ở cự ly đến 600km, còn đối với các mục tiêu trên không đang bay ở độ cao 10km- cự ly phát hiện đến 800km.

Do phải thanh lý hàng loạt các radar Liên Xô sản xuất đã cũ, Việt Nam rất cần các radar ba tọa độ hiện đại có độ tin cậy và mức độ tự động hóa cao khi làm việc ở các chế độ phát hiện, bám (mục tiêu) và truyền dữ liệu mục tiêu cho người sử dụng.

Các chuyên gia Việt Nam đã hết sức chăm chú theo dõi những sản phẩm mới của nước ngoài trong lĩnh vực radar. Có thông tin là Việt Nam quan tâm đến radar ba tọa độ Rajendra của Ấn Độ.

 Radar Ấn Độ đa năng này có thể được bố trí trên khung gầm xe bánh xích hoặc trên các rơ mooc xe kéo. Theo những thông tin giới thiệu của các phương tiện thông tin đại chúng Ấn Độ thì radar này có những tính năng không thua kém radar Mỹ AN/MPQ-53.

Tuy nhiên, mặc dù đã tích cực tiếp thị trên thị trường thế giới, hiện Ấn Độ chưa ký được hợp đồng cung cấp radar Rajendra nào cho các đối tác nước ngoài.

Sau khi phân tích tất cả các phương án theo tiêu chí “giá cả/hiệu quả”, người Việt Nam đã chọn mua các radar Israel.

Trong năm 2014, Bộ đội phòng không Việt Nam đã tiếp nhận 2 radar ba tọa độ mạng pha EL/M-2288 do Công ty “Israel Aircraft Industries” chế tạo.

Những radar này là một trong những radar hiện đại nhất và có thể sử dụng để điều hành không lưu và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho các hệ thống phòng không và hệ thống chống tên lửa.

Cự ly phát hiện tối đa mục tiêu kiểu máy bay tiêm kích MiG-21 đang bay ở độ cao 10.000m lên tới 430km.

Để phát hiện các mục tiêu trên không bay thấp, các lực lượng vũ trang Việt Nam đã mua một số radar EL/M-2106.

Theo một số nguồn tin công khai thì radar ba tọa độ mạng pha này có thể bám đồng thời đến 500 mục tiêu. Radar này có khả năng chống nhiễu tự nhiên và các phương tiện tác chiến điện tử rất tốt.

Radar đa năng EL/M-2106 của Công ty ELTA (Israel) đảm bảo khả năng phát hiện các mục tiêu lớp “tiêm kích” ở cự ly đến 110km, còn những mục tiêu là các máy bay lên thẳng đang bay treo- đến 40km.

Radar có thể hoạt động độc lập hoặc nằm trong thành phần của tổ hợp tên lửa phòng không SPYDER-SR.

Trong thập kỷ sắp tới chắc chắn Việt Nam sẽ phải thanh lý toàn bộ các tổ hợp tên lửa phòng không cố định do Liên Xô chế tạo, và không những chỉ có các tổ hợp tên lửa phòng không đã trở thành “hiện vật quý hiếm” là S-75M3, mà cả các S-125 được hiện đại hóa.

Bởi vì khai thác những phương tiện kỹ thuật phức tạp có tuổi đời nửa thế kỷ trong điều kiện khi hậu nhiệt đới là một giải pháp không thực tế. Do phải loại biên những tổ hợp tên lửa phòng không và radar đã quá hạn sử dụng từ lâu, ngay trong thời gian trước mắt Việt Nam sẽ phải giải quyết vấn đề mua sắm các hệ thống phòng không tầm trung và tầm xa của nước ngoài.

 Xuất phát từ tiêu chí “giá cả/hiệu quả” thì phương án tối ưu đối với Việt Nam là hệ thống tên lửa phòng không Nga S-400.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây Việt Nam đang thực hiện chính sách đa phương hóa nhập khẩu vũ khí- phương tiện kỹ thuật quân sự và vì thế mà trong danh sách những nhà sản xuất tiềm năng cung cấp các hệ thống phòng không tầm xa (cho Việt Nam) còn có thể có Tập đoàn Thales Group của Châu Âu và Tập đoàn Raytheon Mỹ với các tổ hợp tên lửa phòng không SAMP-T và Patriot РАС-3.

Đối với không quân tiêm kích cũng vậy, để đối đầu với mối đe dọa quân sự ngày càng mạnh từ bên ngoài, Bộ đội phòng không- không quân Việt Nam sau khi thanh lý MiG-21 rất cần những máy bay tiêm kích hạng nhẹ hiện đại nhưng giá cả vừa phải và trong trường hợp này thì Nga không có gì để chào hàng Việt Nam.

Nước ta (Nga) tương đối có lợi thế trong phân khúc các tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần và tầm ngắn. Các biến thể hiện đại của các tổ hợp cơ động dòng “Tor” và “Buk” hoàn toàn có khả năng làm các quân nhân Việt Nam quan tâm.

Tuy nhiên, việc mua sắm loại vũ khí này hoặc loại vũ khí khác còn liên quan đến nhiều yếu tố bên ngoài nữa.

Leave A Reply

Your email address will not be published.